Hiển thị các bài đăng có nhãn nợ nần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nợ nần. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Hướng giải quyết nợ xấu


Tình trạng nợ xấu của các DN đang tăng mạnh, tác động tiêu cực đến hoạt động của hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Vậy đâu là lối ra giải quyết thực trạng này?
ĐTCK đã có cuộc phỏng vấn ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV).

Nợ xấu của hệ thống ngân hàng mặc dù chưa đến 3,7%, nhưng nhiều ý kiến cho rằng, trong giai đoạn khó khăn Chính phủ nên đứng ra mua lại, làm sạch khoản nợ xấu, nhằm tạo đà cho ngân hàng bắt kịp nhịp tăng trưởng trong thời gian tới. Quan điểm của ông về hướng giải quyết nợ xấu này ra sao?


Chính phủ các quốc gia khác trên thế giới vẫn mua bán nợ xấu một cách bình thường và Việt Nam cũng nên tiến hành theo cách như vậy. Ví dụ, Chính phủ cũng đã khuyến khích các TCTD bán lại các khoản nợ xấu cho Công ty Mua bán nợ của Bộ Tài chính. Giao dịch này về mặt bản chất chính là Nhà nước mua lại các khoản nợ xấu. Vấn đề chính là phải có đối tượng, có tiêu chí cụ thể. Tôi nghĩ rằng, những khoản gọi là nợ xấu mà Chính phủ có thể xem xét mua phải là những khoản nợ liên quan đến phát triển kinh tế trực tiếp, có tính chất an sinh xã hội hoặc tác động đến tăng trưởng. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể mua bán nợ xấu như thế nào.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, chính các ngân hàng cũng không mặn mà với việc bán lại nợ xấu. Một trong những lý do chính là e ngại sẽ “lộ” ra khoản nợ xấu trên thực tế cao hơn nhiều so với con số chính thức công bố, thưa ông?

Theo tôi, việc giấu nợ xấu là không nên, mọi chuyện cần phải minh bạch. Hiện nợ xấu một phần cũng do tác động của khủng hoảng kinh tế, đó là những nguyên nhân khách quan buộc phải chấp nhận. Mặt khác, tình hình nợ xấu của DN sẽ tác động xấu đến ngân hàng. Trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay, rất khó có thể duy trì mức nợ xấu dưới 1% hay 1,5%. Tất nhiên, người mua nợ cũng phải tính toán, phải thấy có lợi thì mới mua. Chính phủ cũng vậy, phải thấy được việc mua lại nợ xấu của các ngân hàng sẽ mang lại lợi ích gì cho nền kinh tế…

Vì vậy, tôi cho rằng, trong điều kiện thực tế cụ thể, Thống đốc NHNN nên xem xét đến bài toán có thời hạn hiệu lực để chấp nhận tỷ lệ xấu của nền kinh tế đối với các TCTD.

Vậy theo ông, các nhà đầu tư sẽ quan tâm đến những khoản nợ nào?

Thực ra, điều này là rất khó, tùy thuộc vào “khẩu vị” của từng nhà đầu tư, tùy thuộc vào từng khoản nợ. Lẽ đương nhiên, phải thấy có lợi thì nhà đầu tư mới mua. Vì lẽ đó, theo tôi, bên cạnh “giá” của các khoản nợ thì điều cần quan tâm hơn là khả năng sinh lời của khoản nợ đó. Khi DN được mua lại, người mua xác định sẽ tái cấu trúc để các đơn vị này hoạt động lành mạnh và phát triển. Cũng không loại trừ khả năng nhà đầu tư mua lại DN, dự án, sau đó cơ cấu lại để bán.

Về nguyên tắc, cần tạo ra một thị trường mua bán nợ. Khi đó, những DN, dự án có tiềm năng gặp khó khăn ngắn hạn chắc chắn sẽ có giao dịch.

Hiện một số ngân hàng đang thực hiện miễn giảm lãi trên phần vay cũ của DN với mục tiêu xóa dần nợ xấu. Nhìn nhận của ông về vấn đề này như thế nào?

DN trả hết khoản vay với mức lãi suất cũ sẽ được cho vay với lãi suất mới sẽ giảm ít nhất 3 - 4%/năm. Cụ thể hơn, giả sử một DN vay một khoản với lãi suất 18,5%/năm, hiện mức lãi suất đồng loạt của khoản vay này là 14%/năm. Khi đó, DN có thể huy động ở đâu đó mang về trả nợ và sẽ được cho vay bù đắp để khôi phục dư nợ với lãi suất mới. DN sẽ tiết kiệm được 4%/năm lãi suất, đồng nghĩa ngân hàng sẽ mất đi một phần lợi nhuận, nhưng nếu cứ để lại đến khi đáo hạn, chưa chắc ngân hàng đã đòi được hết.

Thuật ngữ gọi đây là hiện tượng đảo nợ, nhưng quan trọng là về bản chất do điều kiện khó khăn của nền kinh tế tác động mà vẫn tiếp tục để khoản nợ với lãi suất cao thì DN càng khó có khả năng trả nợ. Trong những lúc khó khăn, phải có những giải pháp đặc thù để giải quyết tình thế thực tế. Bởi bản thân người thiệt là ngân hàng chứ không phải là khách hàng, ngân hàng đã chấp nhận suy giảm lợi nhuận.

Cụ thể thì các ngân hàng sẽ gánh chịu thiệt thòi ra sao?

Ví dụ cụ thể như ở BIDV, mặc dù chưa có tính toán cụ thể, nhưng ít nhất chúng tôi sẽ phải giảm lợi nhuận khoảng 1.200 - 1.500 tỷ đồng trong điều kiện này để hỗ trợ cho các DN. Hiện nay, chúng tôi đang rà soát lại những khoản dư nợ hiện hữu có mức lãi suất từ 17%/năm hoặc 16,5%/năm trở lên để phải có biện pháp xử lý. Nếu không có biện pháp xử lý thì dù lãi vẫn còn đó, nợ cũng nằm im, chắc là khó trả được. Cho nên, tôi đã đề xuất với Thống đốc, ví dụ như các DN mà Nhà nước sở hữu 100% hoặc Nhà nước sở hữu chi phối thì nên có biện pháp điều chỉnh ngay lãi suất trên số dư hiện có. Với các DN khác thì khuyến khích hình thức đi huy động để hoàn trả rồi sẽ được cho vay mới. Nói thật, nếu không cứu DN, DN chết thì ngân hàng cũng chết.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Ngân hàng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

Habubank - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ký ban hành văn bản số 2506/NHNN-CSTT yêu cầu các tổ chức tín dụng và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện một loạt các biện pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Cụ thể, các tổ chức tin dụng chủ động phối hợp với khách hàng vay trong việc rà soát, đánh giá khả năng trả nợ xấu của khách hàng vay để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay trong việc trả nợ vốn vay phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, phương án vay vốn, khả năng trả nợ xấu của khách hàng.

Trên cơ sở kết quả đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng vay và khả năng tài chính của mình, tổ chức tín dụng thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khách hàng vay không có khả năng trả nợ đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nếu khách hàng không có khả năng trả nợ đúng kỳ hạn nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng trả nợ trong các kỳ hạn tiếp theo thì tổ chức tín dụng xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay.

Bên cạnh đó, khách hàng không có có khả năng trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng trả nợ trong một khoảng thời gian nhất định sau thời hạn cho vay thì tổ chức tín dụng xem xét cho gia hạn nợ với thời hạn phù hợp với nguồn trả nợ của khách hàng.

Thống đốc cũng yêu cầu, trên cơ sở khả năng tài chính và chính sách khách hàng của tổ chức tín dụng để xem xét điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng xuống theo mức lãi suất cho vay hiện hành, nhất là đối với các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng nhiều lao động.

Văn bản này có hiệu lực ngay từ ngày hôm nay, 24/4/2012./.

Khi ngân hàng phải nuôi nợ nần

Habubank - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) rút cục đã cho phép các ngân hàng thương mại (NHTM) được cơ cấu lại nợ mà không phải chuyển nhóm nợ. Đổi lại, NHTM phải điều chỉnh lãi suất cho vay các khoản cũ xuống theo mức hiện hành.

Khi ngân hàng phải nuôi nợ

Cho vay đảo nợ nần chỉ là cách làm đẹp các con số. Trong khi tín dụng không tăng, nhiều khoản nợ cũ cũng không thu hồi được, ngân hàng vẫn không thể dừng huy động vốn, không trả lương nhân viên hay đóng cửa chi nhánh...Vì những điều đó khác nào đóng cửa, giải thể ngân hàng. Để thoát khỏi cảnh "trở đi mắc núi, trở lại mắc sông", một số NHTM quyết định tiếp tục "nuôi" nợ. Hiểu một cách đơn giản là ngân hàng sẽ tiếp tục cho khách hàng vay thêm vốn để hoàn thành dự án, hoàn thành sản phẩm để có thể tiêu thụ được, trả nợ cho ngân hàng. Vấn đề ở chỗ, làm thế nào để xác định được khách hàng nào vẫn còn khả năng sống để hà hơi tiếp sức. Nếu xác định không đúng, ngân hàng sẽ mất cả chì lẫn chài.

Xét trong những khoản cho vay của nhiều NHTM thì bất động sản và những khoản cho vay liên quan đến bất động sản chính là những món nợ nần khó thu hồi vốn nhất hiện nay. Vậy liệu việc tiếp tục cho khách hàng vay vốn để hoàn thành dự án, rồi bán nhà, gom tiền trả nợ cho ngân hàng có khả thi? Có lẽ BIDV là ngân hàng có nhiều câu trả lời nhất cho vấn đề này. Vì, một lần nữa họ tiếp tục tiên phong trong tuyên bố sẽ cơ cấu lại nợ cho khách hàng, đẩy mạnh cho vay liên quan đến bất động sản (năm 2011, tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng này là trên 271 ngàn tỷ đồng, trong đó cho vay kinh doanh bất động sản chiếm khoảng 9%). Giờ chưa thể đánh giá hiệu quả cách làm này của BIDV, nhưng rõ ràng chính sách này tác động không nhiều đến thị trường bất động sản. Sau nhiều chính sách của NHNN như nới cho vay liên quan đến bất động sản và nay là cơ cấu lại nợ, giảm lãi suất cho vay... phản ứng của thị trường bất động sản vẫn rất mờ nhạt.